Hiển thị các bài đăng có nhãn tìm hiểu khám phá. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tìm hiểu khám phá. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 2 tháng 1, 2013

CHO THAI NHI “NGHE NHẠC”: CÓ LỢI NHƯNG CHỚ LẠM DỤNG


CHO THAI NHI “NGHE NHẠC”: 

CÓ LỢI NHƯNG CHỚ LẠM DỤNG

Hoa Nhài

Đứa trẻ ngay từ khi nằm trong bụng mẹ đã được nghe rất nhiều những âm thanh có tính nhạc; khi sinh ra lại được nghe những lời ru êm ái của mẹ, của bà; đến khi chết đi vẫn còn được nghe ban nhạc hiếu cử những bài lâm ai tiễn đưa về cõi vĩnh hằng. Bởi lẽ âm nhạc có vai trò vô cùng quan trọng với đời sống con người, nên không ít ông bố bà mẹ đã ép con nghe thật nhiều âm nhạc ngay từ thời kỳ bào thai.

1. Thai nhi có cảm thụ được âm nhạc không?

Tế bào não của thai nhi hình thành và phát triển theo những cơ chế hết sức phức tạp, sự tác động có chủ đích hoặc không có chủ đích của những yếu tố bên ngoài thai nhi chắc chắn sẽ ảnh hưởng tới quá trính hình thành và phát triển ấy.

Ở tuần thứ 20 của thời kỳ bào thai, các tế bào thính giác bắt đầu biệt hóa mạnh, nhất là những tế bào ở khu vực cung mang hai bên (tương ứng với vùng tai khi thai đã trưởng thành). Đến tháng thứ 7, các tế bào thần kinh thính giác đã đạt tới độ tương đối hoàn chỉnh, có thể cảm thụ rõ ràng các âm thanh, nên sự tác động tích cực của âm nhạc sẽ kích thích các tế bào thính giác tạo nên các xung động kích thích vỏ não, kích thích các tế bào cảm thụ âm thanh của bán cầu não bên đối diện thông qua thể chai, làm cho não trẻ phát triển tốt hơn.

Nhưng bào thai nằm trong bụng mẹ, vậy các âm thanh có đến được với não trẻ không? Âm thanh có bản chất là sóng cơ học nên có thể lan truyền trong các môi trường vật chất như lỏng, đặc, rắn và khí. Bởi vậy nên những âm thanh có tính nhạc với dải tần số 20Hz đến 15000Hz ở bên ngoài môi trường hoàn toàn có thể lan truyền qua cơ thể mẹ để đến với não trẻ.

Ngoài đặc tính vật lý, âm thanh còn có đặc tính sinh học vô cùng quan trọng. Nếu một bản nhạc mở to với độ lớn của âm thanh trên 120dB, chắc chắn sẽ gây nguy hiểm cho tế bào thần kinh thính giác của thai. Nếu bản nhạc ấy vặn nhỏ xuống 90dB, trong thời gian ngắn thì không ảnh hưởng gì, nhưng chỉ cần kéo dài quá 8 tiếng đồng hồ thì lại gây hại cho não trẻ.

2. Tại sao thai nhi nghe nhạc lại có lợi?

Khi tế bào thính giác nói riêng, hay tế bào thần kinh của thai nhi nói chung biệt hóa đến một mức độ nào đó đủ tiếp nhận sự tác động trực tiếp của những âm thanh có tính nhạc, tạo nên những xung động thần kinh kích thích các tế bào não tăng cường phát triển và biệt hóa. Khi bị kích thích, tế bào não của thai nhi ở trạng thái hưng phấn sẽ tiết ra chất Endomorphin, có tác dụng duy trì sự hưng phấn đồng thời kích thích não phát triển tốt hơn.

Nếu người một bản nhạc được người mẹ yêu thích, bản thân các tể bào não của mẹ cũng tăng tiết Endomorphin lưu hành trong máu, nguồn máu này qua rau thai và dây rốn đến vòng tuần hoàn của thai nhi, cũng giúp cho tế bào thần kinh của thai nhi phát triển.

3. Vậy tại sao nghe nhạc cũng có thể có hại?

Với một con người, âm nhạc vừa là niềm vui nhưng cũng đồng thời là sự khó chịu.

Với người mẹ, bản nhạc chỉ với lý do đơn giản là không thích, hay các lý do khác như quá ồn ào, nghe trong những trạng thái mệt mỏi, căng thẳng, chắc chắn sẽ gây tình trạng ức chế tiết Endormophin, hay gây ra hiện tượng ức chế làm giảm khả năng giao tiếp mẹ con, điều đó sẽ không tốt cho não trẻ.

thainhinghenhac
Một bản nhạc phù hợp với thể trạng và đặc tính của thai nhi, nếu được sử dụng đúng mức và đúng thời điểm, sẽ có tác dụng kích thích tế bào não phát triển. Ngược lại, nếu chọn bản nhạc không phù hợp, bắt thai nhi nghe quá nhiều hoặc phải chịu đựng những âm thanh quá lớn, đánh thức giấc ngủ của thai nhi, thì bản nhạc ấy sẽ ức chế hiện tượng tiết Endomorphin, ức chế sự phát triển của tế bào thần kinh.


Tuy nhiên, những câu hỏi đến nay vẫn chưa có lời giải đáp như: bản nhạc như thế nào là phù hợp với thai nhi, cho thai nhi nghe bao nhiêu là đủ, nghe vào thời điểm nào là đúng? Trước đây, người ta đã từng nghĩ, thai nhi nghe nhiều nhạc của Mozart thì đứa trẻ sinh ra sẽ thông minh vượt trội. Đã có nhiều nghiên cứu về chủ đề này, song đến nay tất cả đều dang dở. Đa số ý kiến cho rằng, nên để thai nhi nghe nhạc cổ điển. Nhưng cũng có nhiều ý kiến ngược lại, rằng thai nhi chắc chắn là hiếu động, nên sẽ yêu thích Pop – Rock hơn là các thể loại nhạc nhẹ hay nhạc cổ điển. Áp tai nghe vào thành bụng, văn Volum thật to để cho thai nhi được nghe nhạc, đó là cách mà hiện nay rất nhiều bà mẹ hay dùng. Chưa có nghiên cứu nào chứng tỏ làm như vậy đúng hay sai, nhưng tại sao không đặt giả thiết việc làm ấy sẽ gây ô nhiễm tiếng ồn cho đứa trẻ đang nằm trong bụng mẹ.

4. Không nên lạm dụng âm nhạc đối với thai nhi

Âm nhạc cũng giống như đồ ăn thức uống: ăn ít sẽ bị thiểu dưỡng trí năng và thẩm mĩ; ăn nhiều quá sẽ bị bội thực âm thanh; có loại âm nhạc bổ ích, có loại âm nhạc độc hại; có bản nhạc hợp với người này mà không hợp với người kia. Sử dụng âm nhạc như thế nào với thai nhi? Câu hỏi ấy đến nay giới khoa học vẫn chưa có chỉ dẫn rõ ràng, mà chỉ có những lời khuyên căn cứ trên những phân tích về mặt logic khoa học nhiều hơn là những bằng chứng khoa học xác đáng.

Con người là một thực thể của tự nhiên, nên thuận theo tự nhiên vẫn là lý tưởng hơn cả. Thay vì ép một thai nhi phải nghe thật nhiều nhạc áp tai nghe vào thành bụng hoặc người mẹ phải cố nghe thật nhiều nhạc (kể cả những bản nhạc gây ra sự khó chịu cho mẹ), thì hãy để cho đứa trẻ được tiếp thu âm nhạc một cách tự nhiên hơn. Ví như, người mẹ chọn nghe những loại hình âm nhạc mình yêu thích, nghe trong tâm trạng vui vẻ thoải mái, hay người mẹ có thể hát những ca khúc mình yêu thích với tâm trạng như hát để hai mẹ con cùng nghe, không bao giờ cố gắng nghe hay áp đặt một bản nhạc mình phải nghe.

Nên nhớ, thai nhi đang là một phần của cơ thể mẹ. Mọi hoạt động thể chất và tinh thần của mẹ thai nhi đều có thể cảm nhận thấy.

Link:


Thứ Ba, 1 tháng 1, 2013

Hát lý và những điệu lý dễ thương của Nam bộ


Hát lý và những điệu lý dễ thương của Nam bộ



Trên hầu khắc đất nước ta, nơi nào cũng có xuất hiện, định hình những làn điệu dân ca trữ tình rất ngọt ngào, đáng yêu. Có không ít làn điệu đã trở thành đặc sản của địa phương, khu vực, như hát ả đào, hát đám, hát quan họ, hát huê tình, nói thơ, hò lờ… Nhưng chung nhất và phổ cập nhất của thời trước là “Nam lý, Bắc thơ, Huế hò”.

Giúp ta hiểu rõ thêm câu tục ngữ này, ông Trương Vĩnh Ký giải thích trong “Giáo trình Hát, lý, hò An Nam” (in thạch bản, 1886): “Người trong Nam (từ Đồng Nai ra tới Quảng Nam) thì hát lý hay hơn cả; còn ca, phú, thơ, vịnh thì người miền Bắc; còn về việc hò thì tại nơi kinh kỳ (Huế)”. Lẽ dĩ nhiên từ “hát” nói ở đây không mang hình thức diễn xướng như hát bội, hát cải lương… nó đích thực là một thể loại dân ca đặc hữu của những người thôn dân chân chất. Hát lý không chỉ đã đi vào sinh hoạt đời sống nhân dân ta từ hàng nghìn năm trước mà di sản văn hóa phi vật thể này còn biểu thị tinh thần lạc quan, sức sống mãnh liệt của dân tộc. Chính vì thế nên khi xua quân xâm lược nước ta, vua Minh (Thành Tổ) ban chỉ dụ: “Một binh lính vào nước Nam… hết thảy mọi sách vở văn tự, cho đến những loại ca lý dân gian, hay sách dạy trẻ nhỏ… một mảnh, một chữ đều phải đốt hết…” (đạo dụ ngày 21/8/1406). Rồi không đầy 9 tháng sau, ngày 16/5/1407 Minh Thành Tổ lại ban thêm một đạo chỉ dụ nữa, nội dung nhắc lại tinh thần chỉ dụ trước, đồng thời quở trách các tướng sĩ, khi bắt gặp “những thứ ấy” thì phải ra lệnh đốt ngay chứ không được xem rồi mới đốt, tức phải y lịnh thi hành cho nhanh, cho triệt để! Song như chúng ta đều đã biết, chẳng những họ đã không làm được điều đó mà còn bị nghĩa quân của Lê Lợi quét sạch ra khỏi cõi bờ! Nước nhà độc lập, tự chủ. Thế là giọng lý lại được tôn vinh, cất cao lên khắp các thôn làng! Nhân dân hát lý ở bất cứ nơi đâu, bất cứ vào dịp nào: một mình lúc đang làm đồng, chèo ghe, nghỉ lưng trên cánh võng; hoặc cùng bạn bè trong những cuộc hội hè, tết nhứt, giỗ quải…, có kẻ xướng người xô càng thêm hứng khởi. Ở miền Nam xưa được các nghệ sĩ xếp đứng đầu trong các điệu hát: “Nhứt lý, nhị ngâm, tam Nam, tức oán…”.
Ta biết, lý là quê mùa, là điệu hát mà ca từ chính là những câu phong dao, ca dao được đệm lót thêm một số nhóm từ, cụm từ, tuy là “hư từ”, sáo rỗng và vô nghĩa nhưng lại rất cần để nhằm ngâm nga, đẩy đưa, hỗ trợ làn hơi, đồng thời nghệ nhân cũng hát xen những tiếng láy, điệp ngữ – chính là điệp khúc… làm cho tiết điệu thêm mượt mà, khúc chiết, khi thì tình tứ thiết tha, khi thì buồn thảm nảo nùng, khi thì nhẹ nhàng phấn khởi… Chính nhờ đề tài và nội dung phản ánh mọi hiện tượng xảy ra trong sinh hoạt đời thường của ca dao, nói được những góc cạnh tình cảm trong cuộc sống, và cũng nhờ ca từ giản dị tươi vui, dí dỏm nên lý dễ đi vào lòng người, rất được người bình dân ưa chuộng.
Về lý, ông Huỳnh Tịnh Của có giải thích và phân biệt rõ trong Đại Nam quấc âm tự vị (Imp, Rey Curiol & Cie Saigon, 1895):
Hát lý: Hát bắt nhịp, giọng cao giọng thấp, lặp đi lặp lại.
Lý hát: Và kể và hát có mau có chậm (hiểu là vừa kể vừa hát… và “hát theo điệu ca ngâm”).
Mà ca ngâm thì “muôn màu muôn vẻ”, thành ra hát lý phong phú đến mức có đến hàng trăm điệu (gần như mỗi bài là một điệu). Hiện người ta đã sưu tầm được ngót 160 bài! Con số này sẽ không dừng lại nếu các nhà nghiên cứu âm nhạc dân gian có điều kiện thực hiện thêm những chuyến điền dã tâm huyết.
Trong khẩu ngữ thông thường, dân gian ít phân biệt ca lý và hát lý, vì vậy ở khía cạnh này ta có thể hiểu ca hát là một. Về điệu lý, theo Lư Nhất Vũ – Lê Giang tác giả Tìm hiểu dân ca Nam Bộ thì, cũng như ở Bình Trị Thiên và Nam Trung Bộ, ông bà ta ở Nam Bộ có mấy cách đặt tên cho nhiều điệu lý, đại thể:
a) Lấy nội dung lời hát (ca dao) mà đặt: lý con cúm núm, lý con sam, lý con sáo, lý ngựa ô, lý cây bần, lý cây gòn, lý trái bắp, lý trái mướp, lý dầu dừa, lý mù u, lý bình vôi, lý cái phảng, lý chúc rượu, lý qua cầu, lý cấy, lý đương đệm, lý cảnh chùa, lý vọng phu v.v.
b) Lấy mấy chữ đầu câu hát mà đặt: lý con cua, lý con chuột, lý con mèo, lý chim chi, lý chim sắc, lý chim chuyền, lý cây xanh, lý cây bông, lý cây ớt, lý mạ non, lý dừa tơ, lý trồng hường, lý chẻ tre, lý chiếu bông, lý chiều chiều, lý bánh canh, lý dĩa bánh bò, lý ông hương, lý nàng dâu, lý ba xa kéo chỉ, lý xăm xăm, lý liễn vũ v.v.
c) Lấy tiếng đệm lót hoặc tiếng láy đưa hơi mà đặt: lý í a, lý băng rù, lý bằng lưu thủy, lý bằng rằng, lý cống xê xang, lý giọng ứ, lý hố khoan, lý hố mơi, lý kỳ hợi, lý lu là, lý tú lý tiên, lý rị đa (hoặc lý đu đê), lý rường ơ, lý tang tình, lý ợ, lý yến ảnh v.v.
Ngoài ra người ta còn dựa vào xuất xứ của loại hình ca bóng rỗi mà đặt tên các điệu lý giọng bông; dựa vào đặc tính của nhóm tiếng đệm mô phỏng các bậc âm của “chữ đờn” dân tộc; hoặc tiếng tụng niệm kinh kệ mà đặt tên như: lý bản đờn, lý cống chùa v.v.
Cũng có trường hợp lấy địa danh để đặt cho: lý Ba Tri, lý Cái Mơn… Điều này ít thấy phổ biến trong dân gian. Tất nhiên vẫn có trường hợp cùng một làn điệu nhưng mang tên lý khác nhau, và ngược lại. Việc phân loại chỉ mang tính tương đối bởi “định danh” như vậy không thể tránh được tình trạng nhập nhằng – nhập nhằng cả về việc “định lượng” nữa.
Theo chiều dài lịch sử và tiến trình mở nước, ca dao dân ca lan toả khắp nơi, tuỳ theo hình thái địa lý, hoàn cảnh xã hội, và nhất là do cách phát âm từng nơi mà dân ca nói chung, điệu lý nói riêng có sắc thái mang dấu ấn của vùng miền, chung nhất là dân ca ba miền. Rồi do giao lưu, tiếp xúc mà âm điệu, thanh điệu và cả những tiếng đưa hơi cũng được biến hóa, co giản, làm cho làn điệu thêm phong phú, đồng thời cũng làm bật lên nét đặc thù ngôn ngữ âm nhạc. Thí dụ như điệu lý con sáo, chỉ với câu ca dao Ai đem con sáo sang sông, Cho nên con sáo sổ lồng bay xa, các nhà nghiên cứu âm nhạc dân gian, sơ bộ đã ghi nhận có tới 30 bài, trong đó có 4 bài lý con sáo trung du Bắc Bộ trong hát ghẹo, 3 bài lý con sáo Bắc trong hát quan họ Hà Bắc và hát trống quân, 1 bài lý con sáo Thanh Hóa, 4 bài lý con sáo Huế, Nam Bình Trị Thiên, 2 bài lý con sáo Quảng vùng Nam Trung Bộ, và hơn 10 bài lý con sáo Nam Bộ. Tác giả cuốn sách chuyên khảo về dân ca Nam Bộ đã dẫn có nhận xét: Trong lịch sử âm nhạc chắc chưa có hiện tượng nào cùng một đề tài xuất xứ, từ hai câu ca dao mà có tới hàng chục làn điệu với sắc thái khác nhau và muôn màu muôn vẻ!
Vì sao lý “con sáo sang sông – con sáo sổ lồng – con sáo bay xa” được các nghệ nhân dân gian ưa chuộng đến vậy?
Lý, ngoài sức cuốn hút nhất định của âm điệu, nội dung của câu ca dao này đã phản ánh trung tâm tư, ước vọng của tuyệt đại đa số quần chúng nhân dân: truyền thống đấu tranh bất khuất, không chấp nhận làm nô lệ, luôn tìm mọi cách để “sổ lồng”, “sang sông”, “bay xa” tìm đến chân trời hạnh phúc. Và, thật kỳ diệu, dân tộc Việt Nam đã làm được điều đó!
Với hàng chục điệu lý như vừa nói, tưởng đã quá đủ để minh chứng tình cảm, cá tính người Nam Bộ – cũng là biểu tượng của sự hiên ngang, phóng khoáng của nhân dân. Nhưng nếu có chút tinh tế, ta sẽ thấy ở vùng miền nào cũng bật lên rất rõ nét sự tôn vinh điệu lý! Nếu lý ngựa ô đã có cuộc hành trình khắp nước thì lý con sáo cũng là bài lý thuộc loại dân ca ba miền, được các soạn giả dựa theo các làn điệu của lý mà sáng tác lời mới để mồi cho một làn điệu, một lớp, hay chuyển sang một ý khác đang diễn trên sân khấu nhằm làm thay đổi “thính vị” người nghe. Nó thường được đưa xen vào những bài vọng cổ, ca nhạc cải lương vì trước hết, đó là một điệu thức quen thuộc, dễ ca, có vui, có buồn nên dễ cảm nhận (nhưng dùng điệu lý trong những trường hợp vui dễ thành công hơn) như lý con sáo, lý giao duyên, lý vọng phu, lý ngựa ô, lý Phước Kiến, lý thập tình…
Trong khuôn khổ của một bài viết nhỏ, chúng ta chỉ có thể cảm nhận về lý một cách khái quát và mang tính chung nhất mà thôi. Việc tìm hiểu, phân tích sâu hơn tất nhiên đòi hỏi phải có công trình chuyên khảo dày công của các nhà nghiên cứu âm nhạc dân gian, ở đó không thể thiếu phần ký âm từng điệu, giọng của các lão nghệ nhân.
Dưới đây là vài làn điệu lý “cùng lời khác nhạc” mà các nghệ nhân dân gian đã khéo xử lý những tiếng đệm lót, đệm phụ nghĩa, tiếng lý, tiếng đưa hơi, điệp ngữ… để nhằm hoàn chỉnh cấu trúc âm nhạc. Chúng tôi muốn giới thiệu một số làn điệu bài lý con sáo.
Trước tiên là bài được hát với tốc độ nhanh, nhịp điệu “nhát gừng”, khoẻ khoắn:
- Ai đem con sáo (ký) qua sông (ký) qua sông. Cho nên con sáo (ơ sáo) sổ lồng (à xa mà) bay xa. Cho nên con sáo (á sáo) sổ lồng (ờ xa mà) bay xa (Ai… xa).
Bài khác, hát theo giọng “ợ”, xử lý nhóm tiếng đệm “ừ vậy phải đó thê” với cơ cấu giai điệu cũng như cơ cấu điệu thức rất mượt mà, có duyên (do Huỳnh Ngọc Trảng sưu tầm):
- Ai đem con sáo (này ơ ợ là sông cái) qua sông (bớ em ôi! Dạ ừ vậy phải đó thê). Cho nên con sáo sổ lồng bay xa (đồn rằng tang tình bớ mà… bay xa).
Và một bài nữa với giọng “bằng”, sử dụng cụm từ “ưng ứng ưng” (do Hoàng lê và Trần Kiết Tường ghi):
- Ai, ai đem, ai đem bằng chim sáo, ưng ưng ứng ưng ưng.
Sang sang sang sang sang sông ai đem chim sáo sang sông.
Tình bằng sang sông ưng ứng ưng ưng ưng ưng ưng.
Tình bằng sang sông ưng ứng ưng ưng ưng ưng ưng.
Cho, cho nên, cho nên bằng chim sáo, ưng ưng, ứng ưng ưng.
Sổ sổ sổ sổ sổ lồng cho nên chim sáo sổ lồng.
Tình bằng bay xa, ưng ứng ưng ưng ưng ưng.
Tình bằng bay xa, ưng ứng ưng ưng ưng ưng ưng.
Đúng như câu tục ngữ “Nam lý, Bắc thơ, Huế hò”, một thời hát lý từng được thế nhân coi là một thể loại dân ca trội bật ở miền Nam. Đặc biệt, ở Nam Bộ hát lý có sức cuốn hút rất mãnh liệt, đến mức:
Con cua quậy ở dưới hang,
Nó nghe giọng lý kềnh càng bò lên!
(Lý con cua quầy)
“Nam lý, Bắc thơ, Huế hò”, rõ ràng Nam Bộ không chỉ đã kế thừa cái vốn văn hóa cổ truyền có cội nguồn từ miền Bắc mà còn phát triển mạnh mẽ, làm tôn vinh cái vốn chung của dân tộc.
Nguyễn Hữu Hiệp

Thứ Hai, 3 tháng 12, 2012

PHỤ NỮ LÀM ÂM NHẠC


PHỤ NỮ LÀM ÂM NHẠC

Nguyễn Thị Minh Châu

Không chỉ là nguồn cảm hứng sáng tác cho các nhạc sĩ, nữ giới còn “đích thân” làm chủ thể sáng tạo, và hơn thế, họ đã không vắng mặt trong bất kỳ “mảng” nào của hoạt động âm nhạc. Họ để lại dấu ấn của mình trong các lĩnh vực: sáng tác - phát hiện và đưa cái đẹp của cuộc sống vào tác phẩm, biểu diễn - thể hiện và đưa cái đẹp của tác phẩm đến với đời, giáo dục đào tạo - góp phần bảo tồn và truyền bá cái hay cái đẹp của nghệ thuật âm nhạc, nghiên cứu phê bình - phát hiện và tôn vinh cái hay cái đẹp của nghệ thuật âm nhạc.
Như cuộc kiếm tìm hình ảnh phụ nữ trong tác phẩm âm nhạc, hành trình theo vai trò phụ nữ trong hoạt động âm nhạc cũng xuất phát từ nhạc cổ.
Vòng sinh tử một kiếp người trong nhạc dân gian được bắt đầu từ thể loại hát ru. Như người đời vẫn nói, hát ru là khởi nguồn cho mọi bài ca của con người và bài hát của mẹ bao giờ cũng đẹp bởi được cất lên từ tình mẫu tử.
Mẹ ru cho con ngon giấc, mẹ gửi vào câu hát những buồn vui thân phận và bài học làm người. Đó là bài học đầu tiên về lẽ sống, về cái đẹp và về âm nhạc.
Bao nhiêu nhạc sĩ Việt Nam đã đón nhận cùng dòng sữa ấm bài học âm nhạc dân tộc từ người thầy dạy nhạc đầu tiên của mình là mẹ, một “nghệ sĩ nhân dân không tên tuổi”. Không thể phủ nhận công lao của các bà, các mẹ, các chị trong vai trò ứng tác, thể hiện và lưu truyền thể loại hát ru nói riêng và âm nhạc dân gian nói chung.

Cùng tham gia vai trò sáng tạo và diễn xướng với các liền anh để có thể làm nên canh hát quan họ là các liền chị. Làm sao vắng mặt phụ nữ trong hát đối đáp giao duyên được!


Cho dù quan niệm phong kiến trọng nam khinh nữ đến đâu, thì nữ giới vẫn thực sự bình đẳng trong mọi cuộc đối ca nam nữ, một lối hát dân gian vô cùng phong phú với các hình thức hát trong lao động, hát chơi, hát hội hè, với các làn điệu hò, lý, ví, đúm, xoan, ghẹo, giặm, cò lả, sa mạc, trống quân của người Việt, hát khắp của người Thái, lượn của Tày, sli của Nùng…


Một tiết mục Ca Trù

Ngay trong hò đò dọc trên sông Mã tưởng như “độc quyền” của cánh đàn ông cũng vẫn không thiếu những cuộc hát giao duyên giữa trai đò với các nàng khách buôn trên thuyền hoặc với các cô thôn nữ ở dọc ven sông. Giọng hò và tài đối đáp của cô gái trên bờ nhiều khi níu kéo mê hoặc trai đò đến mức thuyền phải cắm lại để hò vài câu với nhau cho đã.

Đối với ca trù, một nghệ thuật tôn vinh giọng người trong sự kết hợp thần tình giữa hát với đàn và nhạc cụ gõ, vai trò phụ nữ rõ ràng nổi trội hơn đàn ông.

Là trung tâm cuộc diễn xướng, ca nương vừa hát vừa gõ phách, tức là kiêm thêm nhiệm vụ diễn tấu nhạc cụ. Khi đục khi trong, khi lơi khi dồn, tiếng phách giòn giã với tiết tấu điệu nghệ tạo thêm nét quyến rũ và sức cuốn hút cho nghệ thuật ca trù.

Tiếng phách còn đưa ra những hiệu lệnh để đàn đáy và trống chầu cùng phối hợp. Như vậy ở đây ca nương còn là người dẫn dắt “ngầm”, quan trọng như một nhạc trưởng điều khiển bản hòa tấu.

Một điểm đặc biệt nữa trong lịch sử ca trù là sự ghi nhận công ơn người phụ nữ được phản ánh trong tên gọi sớm nhất và muộn nhất của bộ môn nghệ thuật này. Không biết trên thế giới có loại hình âm nhạc cổ truyền nào lại được gọi theo tên gọi nữ nghệ nhân như thế không?

Sử sách đã ghi: từ đời nhà Hồ thế kỷ XV có người ca nương họ Đào lập mưu giết giặc nên về sau để nhớ ơn nàng, người ta gọi những người làm nghề ca hát là ả đào, và đây cũng là tên gọi cổ nhất của thể loại ca trù.

Sách còn ghi: đào già dạy nghề được trò tạ ơn bằng món “tiền đầu” trích ra từ tiền thưởng của đào non trong các cuộc hát đình đám, và khi hát ả đào từ thôn quê lan ra tỉnh thành, thì từ “cô đầu” để chỉ ca nương lão luyện bậc thầy trong nghề dần dần biến thành tên gọi mới của nghệ thuật ca hát này.

Việc đào tạo ca nữ trong giáo phường ca trù xưa kia đòi hỏi những chuẩn mực rất gắt gao. Các cô bé phải khổ luyện vài năm cho đến lễ “mở xiêm áo” mới được chính thức hành nghề. Đào nương được tuyển chọn hát cửa đình không chỉ hát hay phách giỏi mà nhất định phải là người đức hạnh.

Tiêu chuẩn của hát thi cũng vậy, người đoạt giải cần có đủ tài năng - nhan sắc - đạo đức, nên các cô hát hay mà kém nhan sắc cũng bị “đánh” tụt hạng, đủ thanh sắc mà thiếu phẩm hạnh thì cũng... “trượt vỏ chuối”!

Cho đến những thập niên đầu thế kỷ XX, khi sinh hoạt ca trù bị đô thị hóa và biến chất, khi các cô đầu hát bị “vơ đũa cả nắm” với các cô đầu rượu, thì từ “cô đầu” lại được hiểu theo nghĩa ám chỉ phường buôn phấn bán hương và hát ả đào bị coi như một thú ăn chơi hư hỏng. Sợ mang tiếng xấu, nhiều cô đào giỏi đã bỏ nghề, thậm chí chẳng dám nhận mình từng hát ả đào.

Sau nửa thế kỷ chịu tai tiếng oan uổng, nghệ thuật ca trù tới nay mới hồi sinh. Các nghệ nhân được vinh danh, đặc biệt nghệ nhân Quách Thị Hồ được phong danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân.

Phong trào ca trù nở rộ dưới hình thức sinh hoạt câu lạc bộ đã đem lại cho các “cựu” đào nương cơ hội trở lại với vai trò “cô đầu” đúng như cái nghĩa ban đầu: người truyền dạy nghề cho thế hệ con cháu. Họ đáng được trân trọng như “vốn di sản sống” của một bộ môn độc đáo, vừa là một nghệ thuật bác học tinh tế, vừa là một thú chơi nho nhã cao sang.


Các thành viên nữ CLB. Tiếng Hát Quê Hương (TP.HCM)
Ảnh: An Dung 

Đã qua lâu rồi nếp nghĩ cầm ca là nghề xướng ca vô loài và những người theo nghiệp cầm ca, các đào kép, các con hát là hạng đầu đường xó chợ. Cũng đã qua đi những định kiến khắt khe về phẩm giá người phụ nữ trong mối liên quan với âm nhạc, kiểu như “làm thân con gái chớ nghe đàn bầu” hay “nữ đa cầm tắc dâm”. Thoát khỏi quan niệm trói buộc, phụ nữ ngày nay làm âm nhạc trong sự cộng hưởng những ưu điểm vốn có từ xa xưa với những lợi thế của tuổi trẻ thời đại mới như sự hiểu biết và tự tin, tính sắc sảo và chủ động.

Sáng tác nhạc mới vốn là lĩnh vực ít phụ nữ nhất, trước đây chỉ ít ỏi đôi ba tên tuổi được ghi nhận, nhưng vài năm đầu thế kỷ XXI đã nổi lên không ít gương mặt nữ tác giả trẻ, thậm chí quá trẻ. Trong mảng ca khúc quần chúng mới đây còn xuất hiện cả tác giả chưa qua tuổi học trò!

Biểu diễn là nơi chứng tỏ rõ nhất “sức mạnh nữ nhi”. Trong thời chiến có bao câu chuyện diệu kỳ về tiếng hát của các nữ văn công xung kích. Tiếng hát của họ là quê hương, là sức mạnh theo người chiến sĩ ra trận. Tiếng hát của họ chế ngự đau đớn trong cuộc phẫu thuật không thuốc mê thuốc tê ngay giữa chiến trường và khơi dậy khát vọng sống đưa người lính tử thương từ cõi chết trở về.

Trong thời bình, nhất là thời của loại nhạc nghe - nhìn luôn đòi hỏi cái đẹp thấy được bằng mắt, thì dường như ưu thế càng dễ nghiêng về phái đẹp. Một biểu hiện về “quyền lực phụ nữ” là nữ hoàng hay diva nhạc nhẹ có vẻ “sẵn” hơn vua nhạc nhẹ.

Một số hoạt động khác như nghiên cứu và giảng dạy (nhất là dạy đàn cổ truyền, dạy nhạc ở trường phổ thông) xem chừng đang có xu thế “âm” thịnh hơn “dương”. Có lẽ vì tính chất công việc cần đến sự cẩn thận, tỉ mỉ, cân nhắc, kiên nhẫn, khéo léo và nhạy cảm là những bản tính rất phụ nữ?

Có thể thấy rằng trong lĩnh vực âm nhạc, phụ nữ Việt Nam đã và đang tạo cho mình một vẻ toàn mỹ, tựa như chuẩn mực trong cuộc thi ca trù xưa kia, đó là tài, đức và sắc.

3 CommentsChronological   Reverse   Threaded
caibang9 wrote on Sep 21, '10
Xin cảm ơn tác gỉa Nguyễn Thị Minh Châu về 1 bài viết quá xúc tích , gía trị .
Cảm ơn Tếng Hát Quê Hương đã chia sẻ .
phanvan81 wrote on Sep 21, '10
Thanks
tienghatquehuong wrote on Sep 28, '10
Xin cảm ơn các bạn thật nhiều vì đã ghé thăm blog và đọc những bài viết có giá trị về âm nhạc. Mong các bạn luôn yêu quý và cùng chúng tôi giữ gìn những nét đẹp trong âm nhạc Việt nam của chúng ta!

Thân mến,
THQH

Chủ Nhật, 2 tháng 12, 2012

Hơn một ngàn ảnh màu về Việt Nam đầu thế kỷ 20


Hơn một ngàn ảnh màu về Việt Nam đầu thế kỷ 20

Đầu thế kỷ 20, một doanh nhân giàu có tại Pháp phá sản mà một phần cũng bởi ông đổ quá nhiều tiền thuê người và mua thiết bị đi chụp ảnh màu khắp thế giới. Trăm năm sau, chính hành động có vẻ điên rồ đó đã lưu giữ cho nhân loại và đất nước Việt Nam nói riêng một kho tư liệu vô giá.


Phố Chanvre nay là phố Hàng Gai. Các cửa hàng bày bán lồng đèn dịp tết Trung thu (ảnh chụp năm 1915).

Từ câu chuyện về một doanh nhân

Albert Kahn sinh năm 1860 tại Bas-Rhin, Pháp. Ban đầu ông buôn bán đá quý ở vùng Nam Phi, sau đó trở thành một nhà tài phiệt. Ông thành đạt khi mới 30 tuổi. Albert Kahn có hai niềm đam mê. Khi đã trở thành một người giàu có, ông mua một khu rừng với diện tích 4ha ở vùng thượng sông Seine thành phố Paris, cho xây dựng ba khu vườn tuyệt đẹp theo ba phong cách Nhật Bản, Pháp và Anh. Thú vui thứ hai của ông là những thành tựu công nghệ mới.


Một phụ nữ Hà Nội đang trang điểm (chụp năm 1915).

Ông có người bạn thân là Louis Lumière, người thứ hai trong hai anh em nhà Lumière chế tạo ra máy chiếu phim. Vào thời điểm đó, họ là những người đầu tiên chụp và in được ảnh màu autochrome – tức là ảnh được chụp và in tráng theo phương pháp chồng ba tấm kính với nhau, mỗi tấm có một loại hoá chất tạo ra màu sắc khác nhau cho tấm ảnh. Khi được Louis Lumière chia sẻ thành tựu này, Albert Kahn rất thích thú và ngay lập tức bỏ một số tiền rất lớn, thuê rất nhiều người rồi trang bị kỹ thuật cho họ đi khắp thế giới chụp ảnh màu mang về cho ông.

Toàn bộ công việc này được Albert Kahn đặt tên là dự án Thư khố hành tinh (Les Archives de la Planète). Dự án được bắt đầu từ năm 1909 và kết thúc năm 1931, khi sự nghiệp kinh doanh của Albert Kahn xuống dốc nghiêm trọng do ảnh hưởng của cuộc đại suy thoái 1929 – 1930. Cuối cùng, Albert Kahn phá sản và năm 1940 ông mất trong cảnh túng quẫn. Toàn bộ tài sản của ông bị sung công và do chính quyền thành phố Paris quản lý, trong đó có dự án Thư khố hành tinh được chuyển thành viện bảo tàng hình ảnh về hơn 60 quốc gia những năm đầu thế kỷ 20 đặt trong khuôn viên khu rừng 4ha. Viện bảo tàng mang tên Albert Kahn được chính thức mở cửa năm 1986.

Kể với chúng tôi cuộc đời doanh nhân Albert Kahn, nhà sử học Dương Trung Quốc nhận xét: “Về mặt kinh doanh, Albert Kahn đã phá sản nhưng về mặt văn hoá, ông được ghi danh đến muôn đời”.

Tới 1382 bức ảnh màu autochrome về Việt Nam

Sau 21 năm thực hiện, dự án Thư khố hành tinh đã thu thập và lưu giữ được 72.000 đơn vị ảnh của hơn 60 nước. Tất cả đều là ảnh màu autochrome. Trong kho tư liệu hình ảnh này, có 1.382 bức ảnh chụp tại Đông Dương. Những bức ảnh này được chụp bởi ông Léon Busy, một sĩ quan công binh trong quân đội viễn chinh Pháp thời bấy giờ, đã nhận lời tham gia dự án của Albert Kahn trong khoảng 1915 –1917. Ngoài chụp ảnh, ông Léon Busy còn quay khoảng 20 đoạn phim ngắn về sinh hoạt của dân Việt như hội Gióng, một đám cưới của người dân Bắc bộ, những sinh hoạt Hoa kiều ở Sài Gòn… Có 41 bức trong số đó được treo tại bảo tàng.

Gia đình quan thống sứ Bắc kỳ (chụp năm 1916).

Năm 2006, hội đồng tỉnh Hauts-de-Seine và các chuyên gia của bảo tàng khởi động dự án “số hoá” toàn bộ 72.000 đơn vị ảnh. Theo nhà sử học Dương Trung Quốc, người mới được tiếp cận kho tư liệu ảnh này, chỉ còn chưa tới 200 bức về Đông Dương chưa số hoá xong. “Tôi đã biết tới nguồn tư liệu ảnh này cách đây vài năm bởi lác đác đâu đó tôi bắt gặp một vài bức ảnh màu về Việt Nam đầu thế kỷ 20 rất thú vị. Nhưng chuyến đi Pháp vừa rồi thì thực sự được tiếp xúc với những người quản lý bảo tàng cũng như toàn bộ hệ thống tư liệu quý này”, ông Quốc cho biết.

Ngay sau khi bảo tàng mở cửa, một cuốn sách ảnh với tên gọi Làng và dân làng tại Bắc kỳ (Villages et villageois au Tonkin)Albert Kahn và thế giới có màu sắc (Albert Kahn, le monde en couleurs) của nhà báo David Okuefuna. đã được xuất bản trong đó giới thiệu khoảng 60 bức ảnh về Việt Nam. Gần đây nhất là năm 2008, vài chục bức ảnh khác về Việt Nam tiếp tục được công bố trong cuốn sách

“Khi tiếp xúc với những người quản lý bảo tàng Albert Kahn, tôi nhận được sự đón tiếp rất nhiệt tình. Họ biết chúng ta sắp kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội và sẵn sàng tặng tôi một số bức ảnh đã số hoá. Tuy nhiên họ chỉ yêu cầu một điều rằng ảnh phục vụ nghiên cứu hoặc giới thiệu rộng rãi với công chúng thì không sao, nhưng nếu thương mại hoá thì không được” – ông Dương Trung Quốc cho biết – “Ngay sau khi về Việt Nam, tôi cũng đã “đánh tiếng” với những người có trách nhiệm tại Hà Nội về một hành động nhanh chóng và có ý nghĩa khi mà phía bạn đã sẵn sàng hợp tác với chúng ta. Nhưng tới nay cũng không thấy ai phản hồi gì…”

Câu chuyện về 1.382 bức ảnh quý còn là câu chuyện gợi mở cho bất cứ ai có trách nhiệm và ý thức xã hội về cách sống, cách cống hiến và cách lưu giữ những giá trị của hôm nay cho ngày sau.

bài: Dung P.
ảnh: bảo tàng Albert Kahn

Một vị quan đầu tỉnh trong bộ triều phục (ảnh chụp năm 1915).
Thầy đồ viết câu đối tết (chụp năm 1917).
Sông Tam Bạc, Hải Phòng (ảnh chụp năm 1916).
Hai vị “tiên nâu” đang “phê” thuốc phiện (ảnh chụp năm 1916).

ÁO DÀI VIỆT NAM (GS Trần Văn Khê)


ÁO DÀI VIỆT NAM

Trong toàn nước Việt Nam từ Bắc chí Nam và cả trên thế giới, chiếc áo dài được nhiều người xem là một trang phục truyền thống dành cho nam nữ nước Việt mặc vào các dịp lễ hội trang trọng, dùng làm đồng phục trong các công sở, doanh nghiệp … đặc biệt là đồng phục cho nữ sinh các trường Trung học.
Danh từ “áo dài” trong văn hóa trang phục và một số danh từ khác như “phở”, “nem” trong văn hóa ẩm thực, “đàn tài tử” trong âm nhạc (từ sau này nhờ Ea Sola phổ biến) được báo chí trên thế giới dùng mà không cần phải dịch sang tiếng bản xứ.
Chưa ai biết rõ áo dài xuất hiện trong nước Việt Nam từ bao giờ. Một số nhà khảo cổ để ý rằng trên mặt Trống Đồng Ngọc Lũ (hiện được lưu trữ tại Bảo tàng viện Lịch sử Hà Nội) có chạm hình ảnh những người phụ nữ Việt mặc áo hai vạt, nhưng chưa phải là áo dài ngày nay và cho rằng có lẽ chiếc áo đó là tiền thân của áo dài.
Trong quyển “Sử ký Văn hóa Việt Nam”, Đào Duy Anh có nói tới một loại áo gài nút bên trái mà người Việt đã thường hay mặc, khác với áo của người Trung Quốc gài nút bên mặt. Chúng ta cũng được biết một loại áo gọi là “áo giao lãnh”, hình dáng như áo tứ thân, nhưng không buộc hai vạt vào nhau ở phía trước. Người nông dân trong công việc đồng áng thường buộc hai vạt trước lên cao để tiện cho công việc. Áo tứ thân được mặc rất thông dụng tại miền Bắc và phần thân dưới các phụ nữ còn mặc váy.


Chánh sử không ghi lại cách vận trang phục của người dân nước Việt, chúng ta chỉ biết qua cách vận trang phục trong triều đình và trong hàng thượng lưu.
Trong dân chúng có lẽ trang phục của Trung Quốc được người dân bắt chước nên sử có ghi lại năm 1744, một chúa Nguyễn (Nguyễn Phúc Khoát) có cho ra một sắc dụ khuyên dân không nên mặc áo Tàu, mà nam nữ đều phải may áo theo mẫu quy định. Về thường phục thì đàn ông, đàn bà dùng áo cổ đứng ngắn tay, cửa ống tay rộng hẹp tùy tiện, hai bên nách áo trở xuống phải khâu kín không được xẻ mở (Đại Nam Thực Lục tiền biên). Lê Quý Đôn, trong quyển “Phủ biên Tạp lục” có viết: “Chúa Nguyễn Phúc Khoát đã viết những trang sử đầu tiên cho chiếc áo dài như vậy”.
Căn cứ vào hai tư liệu trên, chúng ta có thể nghĩ rằng danh từ “áo dài” xuất hiện vào cuối thế kỷ XVIII.
Dưới triều Nguyễn, thời Minh Mạng, có chiếu nhà vua không cho mặc váy mà phải mặc quần hai ống. Vì vậy nên trong dân gian có câu ca dao :
Chiếu vua Minh Mạng ban ra
Cấm quần không đáy người ta hãi hùng.
Khoảng đầu thế kỷ XIX, người phụ nữ miền Bắc trên mặc áo tứ thân, dưới mặc quần hai ống. Từ miền Trung đi tới miền Nam phụ nữ không mặc áo tứ thân, mà chỉ mặc một loại áo hai vạt mang tên là áo dài, mọi người đều mặc một kiểu, áo may rộng không sát vào thân, luôn luôn có tay dài. Áo dài thường được mặc trong nhà hay ra ngoài đường. Trong miền Nam, vào giữa thế kỷ XIX, xuất hiện chiếc áo bà ba (nếu có dịp tôi sẽ bàn đến).
Áo dài Việt Nam đầu thế kỷ XX
Hình ảnh

Áo dài Việt Nam đầu thế kỷ XX
Qua thế kỷ XX, từ năm 1920 đến 1930, tại miền Bắc có một nhóm họa sĩ nghĩ ra một chiếc áo dài hai vạt, không chỉ may bằng vải mà may bằng lụa, màu sắc đẹp, nhã như màu trắng, đen, xanh, tím. Nhóm Tự lực văn đoàn rất ủng hộ ý kiến này và trong nhóm có 2 họa sĩ (Nguyễn Cát Tường & Lê Phổ) tạo ra một chiếc áo dài may ráp vai. Thuở ấy, áo mới ra đời mang tên là “áo dài Le Mur” (Mur là tiếng Pháp, chỉ một bức tường, mà tường là tên của một họa sĩ). Chiếc áo đó được phụ nữ hoan nghênh và năm 1935 có một người phụ nữ tên Nguyễn Thị Hậu mặc áo dài Le Mur chụp ảnh, mọi người phụ nữ Việt Nam đều thích xem và một số đông bắt chước may theo áo Le Mur. Họa sĩ Lê Phổ để nghị may áo dài sát vào người hơn là để rộng, có một số phụ nữ rất hoan nghinh chiếc áo mới này.

Vài năm sau, trong miền Nam có một thợ may tên Dung, ở tại Đakao, hiệu may mang tên “Dung Tailor” chế ra một áo dài ráp vai theo phương Tây,  gọi là “áo dài Raglan”, người Việt thường gọi “áo dài giác lăng” hay “áo dài ráp lăng”, cổ ráp xéo, quần ráp xéo, ống rộng. Đó là thời trang mới.
Nhưng ở cả ba miền áo dài “cổ điển” vẫn được đa số người lớn tuổi thích may. Chỉ có các phụ nữ trẻ tuổi thích theo thời trang nên mặc những áo dài chạy theo thời trang. Các nữ sinh lại thích mặc áo dài mini Raglan, áo chỉ dài tới đầu gối.
Năm 1958, trong cuộc triển lãm nữ công tại Cô Nhi Viện, phu nhân của ông cố vấn Ngô Đình Nhu xuất hiện với một áo dài mới do bà thiết kế, áo hở cổ, không bâu, tay ngắn và mang găng tay, tóc bới cao. Lúc đó, các thợ may gọi loại áo đó là “áo dài bà Nhu”. Thời trang đó ít được người theo, sau vài năm không ai nhắc tới nữa.

Năm 1968, giới phụ nữ trẻ thích mặc một lối áo mới, phần nhiều chỉ dài tới đầu gối, phía trên sát vào thân, dùng nhiều loại hàng ngoại màu sắc rực rỡ, các cô gọi là “áo dài hippy”, thời trang đó cũng không được nhiều người hưởng ứng, đa số chỉ chấp nhận việc dùng hàng mới có in bông hoa để may áo dùng trong những trường hợp đặc biệt (tiệc cưới, dạ hội …).
Năm 1970, tại Hội nghị Quốc tế Osaka Nhựt Bổn, các thành viên nữ trong phái đoàn Việt Nam mặc áo dài được báo chí Nhựt Bổn khen tặng.
Năm 1973, tại Hội nghị Hòa Bình Bốn Bên, bà Nguyễn Thị Bình, đại diện cho chánh phủ Cách mạng lâm thời (GPMN) mặc áo dài dự Hội nghị, được các báo thế giới chụp ảnh và khen rằng chiếc áo dài Việt Nam nghiêm trang mà rất đẹp.
Nhưng khi nước nhà thống nhứt thì chiếc áo dài không còn được phổ biến như ngày xưa, vì lúc đó những phụ nữ từ vùng kháng chiến về thành đều mặc áo bà ba đen, cổ cuốn khăn rằn. Hình ảnh của những người phụ nữ xả thân vì nước trong con mắt của dân chúng thời ấy có cái gì đáng tôn trọng. Những người có áo dài ngần ngại không dám mặc áo dài dự hội, mà ai cũng cắt áo dài thành áo bà ba. Huống chi đất nước nghèo nàn, thiếu ăn, thiếu mặc, hàng vải may 2 áo dài có thể dùng may 3 chiếc áo bà ba. Do đó, áo bà ba thịnh hành và áo dài vắng bóng. Nhưng trong những cuộc lễ lớn của chánh quyền cách mạng, nhân viên nữ các ban tiếp tân được mặc áo dài để tiếp khách quốc tế.
Dầu cho chiếc áo dài không còn được phổ biến như xưa, nhưng trong nhiều gia đình cũng còn giữ chiếc áo dài để mặc trong các dịp trọng đại.

Khi nền kinh tế trong nước được phát triển, nữ sinh cấp III các trường phổ thông bắt đầu được mặc lại áo dài trắng. Tại các cơ quan, doanh nghiệp, áo dài các màu được mặc thành đồng phục. Hàng ngoại được nhập nên những nhà thiết kế bắt đầu tạo ra những kiểu áo dài mới, dùng hàng lụa mới.

Năm 1989, trong nước Việt Nam đã tổ chức cuộc thi “áo dài” để chọn hoa hậu áo dài, theo báo chí ghi lại thì trong nước có tới 16 ngàn người tham dự.
Năm 1995, tại Tokyo Nhựt Bổn có tổ chức một cuộc thi quốc tế để dành giải thưởng cho một loại áo của phụ nữ trong các nước châu Á, mang tên “Miss International Pageant”, năm đó các loại áo đều có mặt, từ sari Ấn Độ, kimono Nhựt Bổn, hanbok Triều Tiên, … nhưng áo dài Việt Nam đã được tôn vinh là trang phục phụ nữ đẹp nhứt châu Á.
Qua thế kỷ XXI, trong những cuộc thi hoa hậu thế giới, ứng cử viên Việt Nam luôn được chú ý nhờ chiếc áo dài, đã được các nhà thiết kế thời trang tạo mẫu thành những chiếc áo dài dạ hội, áo dài cưới… với hình dáng và màu sắc đa dạng, phong phú. Các báo trên thế giới đua nhau chụp ảnh áo dài Việt Nam.

Đến năm 2000, Việt Nam đăng cai tổ chức cuộc thi hoa hậu thế giới, có một buổi thi “người đẹp áo dài”, cùng với trang phục dạ hội, áo tắm. Năm đó, bắt đầu những cuộc thi hoa hậu thế giới và hoa hậu hoàn vũ đều có những buổi thi đặc biệt về “áo dài”.
Năm 2007, nhà thiết kế Việt Nam David Minh Đức đã thiết kế 30 chiếc áo dài, đặt tên là “Long hoa tụ hội”, nhiều hoa hậu trên thế giới sau khi mặc áo dài rất thích và muốn giữ làm kỷ niệm.

Nhà thiết kế David Minh Đức chỉnh sửa áo dài cho một người mẫu

Một mẫu áo dài do David Minh Đức thiết kế

Một mẫu áo dài trong bộ sưu tập "Long Hoa Tụ Hội"
Năm 2008, trong cuộc thi hoa hậu hoàn vũ, đêm chung kết được tổ chức tại Nha Trang, ban tổ chức nhờ nhà thiết kế Võ Việt Chung may 85 bộ áo dài cho cuộc thi, mang tên là “Big Collection Hoa hậu hoàn vũ”. Nhà thiết kế lấy chủ đề là “Bốn mùa”, lựa những chất liệu ren, lụa, tơ cao cấp, một số lớn loại vải du nhập từ nước ngoài. Nhà thiết kế muốn cho các hoa hậu lúc mặc áo dài vẫn thấy thoải mái và gần gũi với văn hóa của họ, nên chọn lựa hướng đi “đông tây kết hợp”. Do đó, chiếc áo dài tuy vẫn còn kín đáo, e ấp nhưng cũng có nét gợi cảm, hiện đại. Nhà thiết kế này rất cầu toàn nên trong khi thực hiện 85 chiếc áo dài, nhiều lúc không ngại bỏ tiền túi ra để sửa lại những chiếc áo dài chưa thỏa mãn.

Nhà thiết kế Võ Việt Chung đang chỉnh sửa một mẫu áo dài
Năm 2009, trong kỳ thi hoa hậu thế giới, tổ chức tại Mỹ, hoa hậu là một người Mỹ gốc Việt, tên Đỗ Linh Phượng (Lynn Phuong Frazier) đoạt giải trong chiếc áo dài lộng lẫy.
Năm 2010, trong cuộc thi hoa hậu thế giới người Việt sắp tới, ban tổ chức đã qui định sẽ có 4 cuộc thi quan trọng : trang phục dạ hội, áo tắm, áo dài và thi ứng xử.
Nói tới áo dài, cũng không thể không nhắc tới hai nhà thiết kế hàng đầu của Việt Nam là NTK Sỹ Hoàng và Minh Hạnh. Họ là những chuyên gia thời trang đã từng có mặt trong các kỳ thi Hoa Hậu trong nước, chương trình Duyên Dáng Việt Nam tại nước ngoài, các cuộc thi thiết kế thời trang... và được chánh thức mời giới thiệu áo dài tại các nước Châu Á, Châu Âu, đặc biệt là ở Pháp và Bỉ là những trung tâm văn hóa nghệ thuật nổi tiếng thế giới. 

Nhà thiết kế Sỹ Hoàng phát biểu trong một chương trình sinh hoạt định kỳ của GS Trần Văn Khê

Nhà thiết kế Minh Hạnh - một phụ nữ Huế tài năng
Cả hai nhà thiết kế đều tạo lập cho mình phong cách riêng trong từng bộ sưu tập áo dài và khơi gợi được vô số sự quan tâm trong các giới thời trang, nghệ thuật, báo chí... đối với văn hóa Việt Nam. 
Minh Hạnh là nhà thiết kế Việt Nam đầu tiên, sau khi đoạt giải thưởng New Designer Award tại cuộc thi thiết kế Makuhari Grand Prix tại Nhựt (tháng 9/1997), đã từng có vinh hạnh giới thiệu 100 mẫu thời trang trong bộ sưu tập áo dài "Truyền thống và tương lai" tại đền Kiyomizu - Dera (Nhựt Bổn), nơi chưa có ai được trình diễn tại đây, ngay cả với giới thiết kế Nhựt Bổn. Cô dành hết thời gian trong sự nghiệp của mình để tôn vinh chiếc áo dài quê hương trong mắt đồng bào và bạn bè quốc tế. 


Theo Minh Hạnh, vẻ đẹp truyền thống và bí ẩn của chiếc áo dài Việt Nam là "một ngôn ngữ không cần phiên dịch", những đường nét kín đáo mà gợi cảm, những tà áo thêu bao đường chỉ thăng trầm của thời gian đã nói lên tất cả. Điểm sơ qua vài bộ sưu tập của Minh Hạnh như "Rồng và Bướm", "Trở lại thiên đường", áo dài thụng xưa, áo dài thổ cẩm... cũng đủ thấy tình yêu chiếc áo dài dân tộc luôn cháy bỏng trong tâm hồn Minh Hạnh.
Còn Sỹ Hoàng, ngoài những bộ sưu tập áo dài thiết kế cho người lớn như "Hương xưa", "Thanh xuân", "Áo dài cưới cung đình Huế", "Áo dài cưới vương triều", "Màu thời gian", "Bốn mùa"... nhà thiết kế tài hoa này còn có óc sáng tạo phong phú khi thực hiện những bộ áo dài dành riêng cho trẻ em, đặc biệt là từ những bức tranh mà các em thiếu nhi tham gia trong cuộc thi Nét Vẽ Xanh của thành phố. Táo bạo hơn nữa, Sỹ Hoàng cũng đang bắt tay thực hiện dự án về việc xây dựng một "nhà hát áo dài" nhằm tôn vinh trang phục áo dài dân tộc lên thành một tác phẩm nghệ thuật.
 

Bộ sưu tập "Thanh Xuân" của NTK Sỹ Hoàng
Ngoài ra, Sỹ Hoàng còn là một nhà tổ chức nhiều sáng kiến khi đã tổ chức cuộc thi vẽ áo dài trẻ em "Tài năng thiết kế nhí" trong năm 2008, tổ chức cuộc thi vẽ áo dài trẻ em trong hội thi "Nét Vẽ Xanh" 2009, và mới đây nhứt cũng là cuộc thi vẽ áo dài trẻ em trong "Nét Vẽ Xanh" lần 13 năm 2010. Tất cả những mẫu áo dài thiếu nhi của Sỹ Hoàng đều biểu hiện tính cách hồn nhiên, trong sáng, đáng yêu của tuổi thơ, với gam màu tươi tắn, ý tưởng ngộ nghĩnh tràn đầy mơ ước của các em thể hiện từ nguyên gốc bức tranh đoạt giải.


Trong "Lễ hội Áo Dài 2010" tại Festival Huế, có sự góp mặt của 17 nhà thiết kế, kể cả hai nhà thiết kế hàng đầu: Sỹ Hoàng cùng bộ sưu tập "Chị và Em", Minh Hạnh với bộ sưu tập "Mẹ và Con" được khán giả rất quan tâm. Các nhà thiết kế áo dài chẳng những tạo những mẫu áo phù hợp với người  phụ nữ Việt Nam mà còn nghĩ tới những người phụ nữ trên thế giới, đặc biệt là các phụ nữ Tây Âu, nên các kiểu áo dài này cũng được thiết kế sao cho phù hợp với vóc người phương Tây để khi diện chiếc áo dài Việt Nam lên người, họ có thể cảm thấy mình trở nên dịu dàng, đằm thắm.   
Qua bao nhiêu thăng trầm, áo dài phụ nữ Việt Nam hiện nay được mọi người trong và ngoài nước quí trọng như một chiếc áo truyền thống đặc biệt của dân tộc Việt. Các nhà thiết kế dầu cho có dùng chất liệu mới, vẽ hình dáng cách tân … cũng không thể nào làm mất nét đặc biệt của chiếc áo hai vạt mà nhà thơ Văn Tiến Lê đã từng ca ngợi :
Đơn sơ hai mảnh tuyệt vời
Thân sau vạt trước nên lời nước non.
Bình Thạnh, ngày 01-06-2010
Trần Văn Khê